CÁC LOẠI NƯỚC KHOÁNG THƯỜNG GẶP TRÊN THỊ TRƯỜNG
Tùy theo thành phần cấu tạo mà nước khoáng có nhiều tên gọi như:
- Nước calci: chứa hàm lượng calci > 150mg/lit
- Nước magnesie: magnesium > 50mg/l
- Nước bicarbonat: muối bicarbonat > 600mh/l
- Nước sulfat: muối sulfat > 200mh/l
- Nước giàu muối khoáng: cặn khô > 1500mg/l
- Nước khoáng vi lượng: cặn khô < 500mg/l
- Nước ít chất khoáng: cặn khô < 50mg/l
CHỌN TÙY THEO LỨA TUỔI
-Với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ: hàm lượng chất khoáng cần thấp với lượng nitrat dưới 15mg/lít hoặc tốt nhất vẫn là không chứa nitrat để thích hợp cho việc pha chế thức ăn cho bé cũng như pha sữa. Cũng không nên dùng nước có gaz - có thể gây nên chứng trào ngược nơi thực quản.
-Với trẻ em và tuổi thiếu niên : nước khoáng phải cung cấp khoáng vi lượng cần thiết cho sự tăng trưởng đến tuổi dậy thì. Calci và magnesium cần thiết cho sự tạo lập hệ xương, fluor cần cho việc phòng các bệnh sâu răng, vì thế lứa tuổi này cần các loại nước khoáng chứa calci và magnesie.
- Với phụ nữ mang thai và cho con bú : Trong giai đoạn này, người mẹ rất cần calci, magnesium, kali và các vi lượng tố khác - thường có trong nước khoáng có hàm lượng khoáng chất cao. Tuy nhiên cần chú ý với những loại nước khoáng chứa lượng natri quá cao có thể gây nguy hiểm cho chức năng thận. Một vài loại nước khoáng có gaz có thể làm giảm hiện tượng buồn nôn.
- Với người cao tuổi : thường uống không đủ lượng nước cần thiết mỗi ngày nên cần tập thói quen uống nước mà không chờ cảm giác khát để “năm tháng không làm khô héo cơ thể”. Để chống lại tình trạng khô nước (sẽ làm chậm các chức năng vật lý và thần kinh não bộ), người cao tuổi cần các loại nước khoáng chứa vi lượng tố. Tuy nhiên, khi mắc các bệnh như cao huyết áp, yếu tim, yếu thận, thì chỉ nên dùng các loại nước có ghi rõ “thích hợp cho chế độ ăn uống ít muối”.
TÙY THEO HOẠT ĐỘNG HOẶC TÌNH TRẠNG CỦA CƠ THỂ
-Với vận động viên: có hai mối đe dọa cần dự phòng, đó là tình trạng mất nước do ra mồ hôi quá nhiều và tình trạng nhiễm acid do các cố gắng cơ bắp kéo dài (thể hiện qua việc bị chuột rút, viêm gân). Từ giai đoạn làm nóng và hoạt động thể lực trong khoảng một giờ , nên sử dụng nước khoáng hàm lượng khoáng chất thấp. Nhưng sau khi đã ngừng hoạt động thể lực, nên dùng nước khoáng hàm lượng cao (nhất là lượng bicarbonat) có gaz. Nên uống lạnh nhưng không bỏ đá.
- Người kiệt sức, bị stress: do hoạt động gắng sức quá độ hoặc bị ảnh hưởng môi trường sống (nghề nghiệp, gia đình gặp nhiều khó khăn) cần các loại nước khoáng chứa muối khoáng và vi lượng tố, nhất là magnesium là chất hỗ trợ thần kinh.. Các loại nước uống tăng lực cũng có thể được dùng phối hợp để cải thiện thể chất và tinh thần người bị stress, có thể uống thay đổi để đa dạng hóa các khoáng chất.
- Nước khoáng cho người mập : cả nam lẫn nữ đều muốn (và cần) giảm cân. Mỗi ngày chỉ nên uống từ 1-1,5 lít nước khoáng có hàm lượng natri thấp để vừa dẫn lưu tuần hoàn vừa giải độc cho cơ thể, uống chia làm nhiều lần từ lúc thức dậy cho đến khi đi ngủ.
- Có chống chỉ định khi dùng nước khoáng không ?
Khi nước có khả năng cung cấp cho cơ thể một hàm lượng lớn khoáng chất thì hoạt tính này có thể thích hợp hoặc không thích hợp cho sức khỏe của mỗi người. Với trẻ em đang lớn hoặc phụ nữ mang thai, cần nước chứa calci và tránh những loại nước dễ gây lợi tiểu.
Riêng những người bị cao huyết áp, suy tim, suy thận nặng thì cần phải thận trọng và chọn lựa kỹ càng khi sử dụng nước khoáng. Với họ hàm lượng natri cao trong nước khoáng sẽ dễ dẫn đến tai biến. |